Ngày Đăng : 17/06/2017

Có cánh cửa nào đóng sập? - Phần 1

          Hôm nay, khi đọc bản tin: “Một sinh viên ra trường 04 năm không tìm được việc tự tử ở Đà Nẵng”. Tôi tự hỏi: Trước khi quyết định làm điều tồi tệ nhất, chàng thanh niên đó đã nghĩ gì? Trong trạng thái như thế nào? Chúng ta có suy nghĩ gì khi có quá nhiều vụ việc Sinh viên tự tử vì thất vọng về cuộc sống? Chúng ta dễ dàng đưa ra một lời phán xét hơn là một lời cảm thông? Có chăng chúng ta nên đề xuất một giải pháp hoặc tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng này?

          Có phải khi niềm tin bị dập tắt, mọi lối đi đều đóng sập, cuộc đời muôn ngàn bất công thì con người buộc lựa chọn điều tồi tệ nhất trong đó cái chết không còn là nỗi sợ hãi lớn lao. Tôi nghĩ câu chuyện chàng Sinh viên tự tử kia không phải là sự thất vọng, thua cuộc với chính cuộc đời riêng của anh ta mà là sự cảnh tỉnh hay lời nhắc nhở đối với Xã hội trong việc làm sao để “dung nạp” một con người?

      Một thực trạng của cá nhân phản ánh toàn thể các vấn đề của Xã hội và ngược lại Xã hội là tác động bao trùm lên một cá nhân. Mối quan hệ này trong Đạo Phật gọi là mối quan hệ tương tức. Để phân tích nguyên nhân, đưa ra giải pháp toàn vẹn cho một con người (xin nhớ là con người, chứ không phải một cái máy hay đồ vật) thì đó là một lời khuyên khập khiễng. Với quan điểm cá nhân, tôi xin chia sẻ một vài hiểu biết, có thể phù hợp trong phạm vi nhỏ. Bài viết được chia ra thành 02 phần chính:

- Phần 1: Bức tranh tương quan giữa con người và Xã hội.

- Phần 2: Kinh nghiệm chia sẻ của những người đi trước đối với các em sinh viên mới ra trường. (Chia sẻ của tôi - là một Quản lý điều hành của một công ty và một người bạn là Quản lý Nhân sự của một công ty nước ngoài)

 

Phần 1

1.  Triết lý ứng dụng trong việc hình thành nhận thức, nhân sinh quan của con người

           Con người là sản phẩm giao hòa của các sự vật hiện tượng họ đang sống, trong đó các yếu tố: Chính trị, Xã hội, Giáo dục, Văn hóa... có tác động mật thiết. Từ lúc sinh ra con người đã “bị tác động” như một điều hiển nhiên và chấp nhận nên vô hình trung họ không nhận ra mình đang bị “đàn áp”, “áp đặt” bởi một hệ tư tưởng – được giáo dục Đúng/Sai. Trong khi cái Đúng/Sai đó chỉ là tương đối. Khi con người lớn lên, dưới tác động của hoàn cảnh và tập quán đó họ đã mang cho mình những áp lực vô hình mà họ quên mất đi cái “tự thân”, “chính mình”.

         Để dễ hình dung, tôi xin lấy một ví dụ để các bạn thấy môi trường ảnh hưởng đến một cá nhân như thế nào:

Vd: Một đứa trẻ lớn lên ở làng quê, gia đình nghèo khó, những định kiến sau lũy tre làng. Một đứa trẻ lớn lên trong sự bảo bọc ở thành phố, không thiếu thốn vật chất, tiếp xúc với các phương tiện hiện đại... Ta khoan nói bên nào tốt hơn bên nào. Nhưng về cái tư tưởng được cài đặt giữa hai đứa trẻ là khác nhau trong đó: có cách nhìn đời, hành xử, trọng trách, sứ mệnh khác nhau. Khi lớn lên với hành trang đó, con người lại bị ném ra ngoài xã hội thì sẽ không có công thức chung cho con người gọi là đáp ứng Xã hội như nhau.

         Chưa kể Xã hội ngoài sự phức tạp, đa dạng thì Xã hội còn có những quy chuẩn khá "cứng nhắc" về: thành công, địa vị, nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con xinh… khiến con người không ngừng áp lực, lo lắng với các "định mức" khi họ đạt tới tuổi nào đó mà chưa hoàn thành.

          Ngoài áp lực vô hình (Văn hóa, định kiến, chính trị, tôn giáo) thì xác định một con người trong Xã hội nó phải là sự tương quan giữa nhiều mối quan hệ:  Cha mẹ, con cái, vợ chồng, bạn bè, nhân viên, sếp, đồng nghiệp v.v.. Giữa nhiều trọng trách đó, con người thực sự bị giằng xé giữa nhiều vai trò, nhiều áp lực vô hình, hữu hình mà dầu ý thức hay không họ vẫn phải gánh gồng.

           Vậy bức tranh tôi đang phác họa muốn khái quát rằng, những áp lực mặc định của con người là điều không tránh khỏi. Làm sao, một thanh niên đứng trước giữa cuộc đời ý thức được là: Cái gì do mình, cái gì không do mình… để có sự định hướng đúng đắn về cuộc đời? Trong khi cha mẹ thúc giục nó, xã hội chê bai nó, bạn bè bỏ rơi nó. Không hiểu được điều này, thì đôi khi cha mẹ cũng nhân danh yêu thương để cào cứa vào vết thương của con mình.

 2.  Thực trạng thị trường việc làm của Xã hội

          Vấn đề Xã hội ngày nay đang có những bước đổi thay, có nhiều chuyển đổi sâu sắc. Những điều thế hệ Ông bà/ Cha mẹ chúng ta cho là “lý tưởng” (như làm nhà nước, tư duy ổn định…) sẽ không còn đúng và bền vững trong một xu hướng đầy biến động như ngày nay. Tôi gạch đầu dòng  ra vài yếu tố góp phần sự thay đổi của thị trường việc làm như sau:

         - Thị trường người lao động là sản phẩm đầu ra không được thực hiện qua một cuộc điều tra, thống kê. Sức lao động là một sản phẩm hàng hóa cần lấy ý kiến khách hàng về số lượng lẫn chất lượng (Khách hàng ở đây là Doanh nghiệp, Các đơn vị ban ngành chủ quản, về tỉ suất công việc đó trên thị trường). Giáo dục bằng cấp trở thành một việc kinh doanh tràn lan và thiếu trách nhiệm.

        Vd: Ta cần có một cuộc thống kê: thời gian đó, năm đó cần bao nhiêu lực lượng Giáo viên, Kỹ sư, Bác sĩ, Công nhân, lao động kỹ thuật… Chúng ta cũng cần có thống kê đến từng Doanh nghiệp họ cần chất lượng người lao động thế nào, chuyên sâu và nên học vấn đề gì… Tôi lấy ví dụ: Thế giới phẳng, công nghệ thay đổi mỗi ngày, Doanh nghiệp CNTT phải làm các thiết kế sản phẩm trên các thiết bị hiện đại trên nền tảng mới. Thế nhưng các trường Đại học chuyên ngành CNTT cứ mãi chôn chân với những giáo trình cũ (Tôi không dám bàn chi tiết, vì rất lâu rồi tôi chưa làm việc hay nói chuyện với các thầy cô CNTT, có thể là đã có thay đổi, nhưng tôi nghĩ không đáng kể và chậm so với đòi hỏi của Xã hội).

         - Tình trạng xã hội không phân hóa công việc sâu sắc: Đất nước còn nghèo, nên khả năng phân hóa công việc còn thấp. Những Doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa và nhỏ (vì do nhiều yếu tố trong đó có yếu tố cơ chế) thì họ không thể phân hóa sâu sắc công việc. Một người phải đảm nhiều chức năng, nhiệm vụ, giúp tiết kiệm chi phí. Nên cùng một ngành nghề sẽ vắng bóng đi một số vị trí công việc. Ví dụ như ngành IT ở một đơn vị nhỏ: Code sẽ là Tech Lead, sẽ là Tester, vắng bóng luôn vị trí QA (Quantity Assistant) và khái niệm Kỹ sư cầu nối cũng không có cơ hội được biết đến.

        - Tình trạng xã hội phát triển không bền vững: Ở đây tôi đề cập trên phương diện nhỏ trong phạm vi một Thành phố. Ví dụ: Thành phố Đà Nẵng, theo mọi người đây là một thành phố đáng sống bởi các yếu tố tự nhiên ưu đãi, nhưng tại sao thị trường lao động, cơ hội việc làm thấp và sức thu hút đầu tư của Doanh nghiệp rất kém?

        Đứng trên góc độ Doanh nghiệp, tôi nhận thấy Doanh nghiệp vẫn vận hành theo cơ chế xưa cũ, không có mô hình và hệ thống mới. Nặng nề xin cho, cơ chế, tư duy con người kém thông thoáng; Tìm thấy rất ít những đơn vị có cốt lõi lãnh đạo tư tưởng mới, khát vọng vươn ra biển lớn hay một thị trường fair-play. Một lớp doanh nhân vẫn hằn học, xin cho, nhiều cơ chế ngầm phía dưới. Một thành phố chỉ phát triển dựa trên việc xẻ đất buôn bán (thị trường bất động sản nhộn nhịp) và du lịch đầu tư không tới; Các tác động tồi tệ của con người đến tài nguyên môi trường. Trong khi đó rất hiếm thấy năng lực đầu tư sản xuất, tạo ra sản phẩm, năng lực buôn bán lưu thông hàng hóa. Thiếu vắng cơ chế đòi hỏi tư duy chuyên nghiệp thì làm sao có một xã hội phát triển bền vững kinh tế? Nếu không bền vững kinh tế thì thị trường lao động bấp bênh là điều chắc chắn?

3. Giáo dục thành tích, định kiến nghề nghiệp

       “Ở Việt Nam khi gặp nhau mọi người hay hỏi nhau làm nghề gì. Tuy nhiên, ý thức về nghề nghiệp thực ra rất mờ nhạt.

Sinh viên học xong năm thứ 4 cũng không hình dung ra công việc mà nghề mình học sẽ như thế nào. Thậm chí không hình dung được mình sẽ phải làm như thế nào để có thể trở thành người làm trong lĩnh vực đấy”

                                                                                                    - Nguyễn Quốc Vương-

          Tôi trích dẫn câu nói của anh Nguyễn Quốc Vương để thấy rằng: việc định hướng nghề nghiệp thường đặt trong tay Cha mẹ, Giáo viên, Giảng viên -  những người có tác động trực tiếp đến các thế hệ con người khi bước ra ngưỡng cửa cuộc đời. Nhưng vì giới hạn nhân sinh quan hay thiếu thực nghiệm mà Cha mẹ hoặc Giáo viên, Giảng viên có những định hướng mù mờ và cứng nhắc cho một loại ngành nghề.

         Lấy ví dụ: Tất cả các bạn học trong lớp tôi ngày ấy chỉ nghĩ được hai công việc cụ thể duy nhất là Coder và Tester sau khi học xong 5 năm Đại học Bách Khoa, chuyên ngành Công nghệ thông tin. Và chính các Giảng viên trong trường Đại học cũng thiếu cọ xát với thực tế, nên họ chỉ thấy được “hai hướng công việc” duy nhất mà chúng tôi có thể làm là Coder và Tester. Trong khi ra trường rất nhiều vị trí mà ngành nghề IT sẽ tiếp cận được: BA (Business Analyst, Project Management, HRM liên quan đến IT, IT sale manager, giảng viên nghiên cứu IT, IT trong các bộ phận ban ngành của các cơ quan).

          Ví dụ khác về định hướng nghề nghiệp của Cha mẹ thì phần lớn là cha truyền con nối, thừa kế công việc mà Cha mẹ đi qua. Vậy thì quả là một định hướng "nghèo nàn" và cứng nhắc.

4. Gia đình – cái nôi hình thành nhân cách một con người

         Gia đình là một mô hình thu nhỏ của xã hội. Là cái nôi hình thành nhân cách của con người. Cũng như vấn đề nói trên, con người không được quyền chọn gia đình của mình, nơi mình sinh ra lớn lên… Những thói quen định kiến của gia đình đối với một con người. Và áp lực phải có của họ phải vô hình gánh vác từ lúc là một đứa trẻ. Tránh việc cha mẹ quá kỳ vọng và tạo áp lực lên con cái. Bởi tôi nghĩ, khi ra xã hội đứa trẻ ngày ấy phải trải qua “va chạm” “đổ vỡ” rất nhiều để trưởng thành; Thì gia đình nên là một cái nôi trở về trong êm ấm, bớt thị phi phán xét; nơi con người có thể quay về sau lúc mệt mỏi và cần tái tạo cân bằng.

        Tôi cũng chia sẻ một vài quan điểm trong chủ đề riêng trong bài: “Nhóm gia đình cùng phương pháp giáo dục”, tức là thế hệ Cha mẹ kiểu mới nên thay đổi tư duy, tháo gỡ bớt áp lực, định kiến vô hình lên con trẻ, bên cạnh đó là đồng hành và định hướng con cái. Trong đó, việc Cha Mẹ không ngừng học hỏi, hiểu biết thế hệ cách mình 20-25 năm tư tưởng đã thay đổi thế nào, môi trường đã đổi khác ra sao, và có lúc lại quán chiếu về chính mình khi đang ở độ tuổi đó của con. Chính khi các bậc làm Cha Mẹ hài hòa được các yếu tố đó, khác với việc cứ đầu tư và kỳ vọng như trước đây, thì mới tạo cho lớp trẻ sự tiến bộ, tự tin và hiểu rõ chính bản thân mình.

       Tôi nhắc lại, một trong các yếu tố khiến thanh niên tự tử nhiều đó cũng là một phần áp lực từ gia đình (sau áp lực từ xã hội). Xã hội đã quá nhiều phán xét rồi. Gia đình phải là chốn để yêu thương. 

      Một vài điểm tôi đưa ra để thấy được yếu tố tổng quan của xã hội lên con người và vị trí con người ở đâu trong Xã hội. Từ đó, con người (cụ thể là một cá nhân có ý thức) nên biết điều chỉnh bản thân: “Điều nào do mình, điều nào do người” để lựa chọn công việc và lẽ sống trong đời. Sau đó, Phần 2 sẽ là phần cập nhật kinh nghiệm riêng của hai người bạn học cùng lớp Đại học, sẽ giúp các bạn Sinh viên một phần hiểu được điều mình nên làm, nên chuẩn bị, tìm thấy giá trị bản thân trong xã hội; Qua đó tránh những suy nghĩ và hành động tiêu cực, đáng tiếc.

(Còn tiếp Phần 2)